Công bằng, minh bạch về hưởng lợi tiền dịch vụ môi trường rừng – Giải pháp để quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng bền vững

October 2015

Chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) đang triển khai rộng khắp tại các địa phương có rừng ở Việt Nam, theo đó những cánh rừng được bảo vệ trong lưu vực giúp cho cải thiện nguồn nước phục vụ sản xuất thủy điện và cung ứng nguồn nước sinh hoạt, phục vụ cảnh quan môi trường sinh thái… sẽ nhận được số tiền mà bên sử dụng dịch vụ chi trả. Trong triển khai thực hiện, các cộng đồng dân cư (thôn/ bản) đã nhận được số tiền này, họ đã ban hành quy ước bảo vệ rừng và quy chế sử dụng số tiền được chi trả. Tuy nhiên, quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện tại một số địa phương chưa thực sự hiệu quả vì người dân trong cộng đồng không được tham gia bàn bạc, quyết định và thiếu sự kiểm tra, giám sát. Việc này dễ dẫn đến tình trạng người dân thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm với diện tích rừng do cộng đồng quản lý.

Trong bài viết này, thông qua các kiến thức về quản trị rừng công bằng do Tổ chức RECOFTC đào tạo và việc tìm hiểu và phân tích tại một cộng đồng dân cư của địa phương đã giúp chúng tôi nhìn nhận được những bất cập trong việc xây dựng và thực hiện quy chế sử dụng tiền DVMTR để từ đó đề xuất, khuyến nghị xây dựng lại, giúp cho công tác bảo vệ rừng và sử dụng tiền DVMTR tại cộng đồng dân cư phát huy hiệu quả hơn nữa trong thực tiễn.

Thực trạng công tác quản lý, bảo vệ rừng và sử dụng tiền DVMTR trong cộng đồng dân cư
Cộng đồng thôn H được Khu Bảo tồn thiên nhiên giao khoán bảo vệ trên 1000 ha rừng, hàng năm nhận được số tiền khoảng 80 triệu đồng. Để thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng, Ban quản lý thôn đã lập danh sách 15 người trong tổ bảo vệ rừng, xây dựng quy ước bảo vệ rừng và quy chế sử dụng số tiền được chi trả. Những người tham gia trong tổ bảo vệ rừng được trả công tuần tra rừng khoảng 150.000 đồng/ công tương đương một ngày công lao động, hàng tuần họ thay phiên nhau tuần tra rừng.

Sau khi nhận được số tiền chi trả DVMTR, BQL thôn sử dụng 60% số tiền để thanh toán tiền công cho tổ bảo vệ rừng, 30% số tiền dùng để làm các công việc chung của thôn bản (tu sửa nhà văn hóa của thôn, làm khu chăn thả gia súc, hội họp, khen thưởng …) và 10% còn lại để dự phòng khi có cháy rừng xảy ra.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu thì nhiều người dân cho biết họ chưa đồng tình với cách làm trên vì khi thành lập Tổ bảo vệ rừng, BQL thôn chỉ thông qua danh sách những người tham gia và thông qua bản quy chế sử dụng tiền DVMTR đã được soạn thảo sẵn trong một cuộc họp thôn. Do cuộc họp thôn hôm đó có nhiều việc khác phải bàn nên mọi người trong thôn không có thời gian phát biểu tham gia ý kiến, vì thế danh sách Tổ bảo vệ rừng và các bản dự thảo vẫn được thông qua. Khi tìm hiểu Bản quy ước bảo vệ rừng, quy chế sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng và việc sử dụng tiền DVMTR thực tế của thôn trong những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy: (i) Ngoài 15 hộ gia đình tham gia tổ bảo vệ rừng, những người khác trong thôn không được hưởng lợi số tiền này. (ii) Quy chế cho phép chi quá nhiều tiền cho Tổ bảo vệ rừng (60% số tiền). Số tiền còn lại dùng chung cho cộng đồng quá ít. (iii) Quy chế không có các quy định để cộng đồng giám sát việc chi tiêu. (iv) Trong bảo vệ rừng thì có quá nhiều các quy định về trách nhiệm của người dân và chế tài xử phạt nếu họ vi phạm mà không đề cập đến quyền hưởng lợi của họ.

Do trong quy chế không quy định việc cộng đồng giám sát nên trong một số nội dung chi tiêu, Ban quản lý thôn đã sử dụng lãng phí số tiền này. Hàng năm, khi chi tiêu hết, BQL Thôn không thông tin lại cho người dân trong thôn được biết nội dung chi tiêu trong các cuộc họp thôn, vì vậy có sự nghi kỵ giữa người dân với cán bộ của thôn, bản.
Và hậu quả là rừng vẫn bị lén lút phá bởi người dân trong chính cộng đồng này, họ vào rừng khai thác gỗ, củi, măng và lâm sản phụ để dùng trong gia đình và để bán tại các phiên chợ. Mặc dù nhìn bề ngoài, cây rừng xanh tốt nhưng bên trong, tài nguyên rừng đã bị “ rút ruột” trầm trọng. Một số vụ Tổ bảo vệ rừng có bắt được người dân khai thác rừng, nhưng rồi lại cho qua bởi vì họ nể nang nhau. Có lần, người dân trong thôn đi bắt ong đã gây cháy rừng, nhưng khi BQL thôn đã huy động những người trong thôn ra dập lửa chữa cháy, chỉ có Tổ bảo vệ rừng tham gia tích cực, những người khác trong thôn hờ hững, hoặc tham gia lấy lệ. Họ cho rằng đó không phải trách nhiệm của họ vì họ không được nhận tiền bảo vệ rừng và không được khai thác lâm sản trên cánh rừng đó.

Công khai, minh bạch và công bằng trong hưởng lợi - Giải pháp quản lý rừng cộng đồng bền vững
Từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy: Sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng các quy định của địa phương là thực sự cần thiết, quá trình này phải được thực hiện ngay từ ban đầu, bởi vì một quy ước bảo vệ rừng cộng đồng và một quy chế sử dụng tiền DVMTR luôn phải gắn chặt với lợi ích của mỗi thành viên trong cộng đồng. Trong trường hợp của cộng đồng thôn H, chúng ta có thể cải thiện sự công bằng, minh bạch và gia tăng quyền hưởng lợi của người dân trong cộng đồng bằng việc thiết lập lại các quy định bằng các giải pháp sau đây: (i) Luân phiên chuyển đổi hàng năm đối với 15 thành viên của Tổ bảo vệ rừng, đảm bảo các hộ gia đình trong thôn đều có cơ hội tham gia nếu họ mong muốn. Việc này phải thực hiện thông qua việc bình bầu, thay đổi hàng năm. (ii) Cơ cấu, phân chia lại tỷ lệ các nội dung chi hợp lý, đối với số tiền dùng chung trong cộng đồng nên chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 50-60%), còn lại mới chi cho các nội dung khác. (iii) Xây dựng quy chế giám sát việc chi tiêu, đảm bảo minh bạch hóa các khoản chi, việc này có thể thực hiện trong các cuộc họp thôn vào cuối năm. BQL thôn phải giải trình các chất vấn của người dân trong thôn về các khoản chi của mình (iv) Gia tăng các lợi ích của người dân khi thực hiện quy ước Bảo vệ rừng cộng đồng, đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích khai thác hữu hạn tài nguyên rừng với tăng trưởng của rừng. Cụ thể hóa về quyền và trách nhiệm của các thành viên trong cộng đồng đối với diện tích rừng được giao quản lý, bảo vệ.

Việc xây dựng lại bản quy ước Bảo vệ rừng và quy chế sử dụng tiền DVMTR cần phải gắn kết mật thiết giữa quyền hưởng lợi với trách nhiệm của các bên liên quan và đặc biệt phải có sự tham gia của người dân, qua đó giúp người dân hiểu được quyền lợi, trách nhiệm của họ đối với diện tích rừng của cộng đồng, bên cạnh đó nó đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng số tiền DVMTR mà cộng đồng nhận được. Quy ước và quy chế phải được xây dựng theo một trình tự, đảm bảo phù hợp với các quy định của pháp luật và phong tục tập quán của người dân địa phương, do đó khi xây dựng cần có một ban soạn thảo có kiến thức, sự am hiểu nhất định và có sự trao đổi thường xuyên giữa các bên liên quan trước khi bản thảo quy ước được đưa ra bàn thảo trong cộng đồng. Quy ước và quy chế sau khi soạn thảo xong cần có sự phê duyệt của chính quyền địa phương cấp xã – Đây là sự thừa nhận của cơ quan nhà nước đối với một văn bản do cộng đồng tự xây dựng để nó phát huy hiệu quả trên thực tế và cũng là cơ sở để xử lý các vi phạm xảy ra trong quá trình tổ chức thực hiện.
Thiết nghĩ, đối với quản lý rừng cộng đồng nói chung và cụ thể tại thôn H như đã nêu ở trên thì việc công khai, minh bạch và công bằng trong hưởng lợi tiền dịch vụ môi trường rừng là một giải pháp quan trọng để quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng bền vững./.

Lê Công Cường
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thanh Hóa